Kết nối, khai thác dữ liệu dùng chung giúp ngành nông nghiệp và môi trường từng bước cắt giảm thành phần hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính.
Triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số, Bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao Cục Chuyển đổi số của Bộ 2 nhiệm vụ là hoàn thiện Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm tích hợp, hoạt động đồng bộ, thống nhất, thông suốt, ổn định với Cổng Dịch vụ công quốc gia, đáp ứng yêu cầu về chất lượng dịch vụ và trải nghiệm người dùng và kết nối Hệ thống này với các cơ sở dữ liệu đã công bố và mới hoàn thành; tự động điền, xác thực và tái sử dụng dữ liệu trước ngày 10/10/2026.

Trung tâm dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường được đặt tại trụ sở Cục Chuyển đổi số. Ảnh: Viết Dũng.
Liên quan tới vấn đề này, phóng viên báo Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với ông Nguyễn Xuân Thang, Giám đốc Trung tâm Thông tin, lưu trữ và thư viện, Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về kết quả triển khai, những vướng mắc và định hướng hoàn thiện hệ thống.
Rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính
Thưa ông, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính ngành nông nghiệp và môi trường được xây dựng trong bối cảnh nào và quá trình triển khai ra sao?
Tháng 7/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban chỉ đạo 57) có chỉ đạo triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo mô hình tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, thay thế các hệ thống riêng lẻ của cấp tỉnh. Thực hiện chỉ đạo này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Kế hoạch tại Quyết định số 4554/QĐ-BNNMT ngày 31/10/2025, đồng thời phối hợp Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) xây dựng, triển khai hệ thống.
Ngày 25/12/2025, Cục Chuyển đổi số đã tổ chức tập huấn trên phạm vi cả nước, hướng dẫn các địa phương sử dụng hệ thống, phân quyền tài khoản và chuẩn bị các điều kiện vận hành. Từ ngày 1/1/2026, hệ thống chính thức vận hành theo mô hình tập trung đối với các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương; các thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ được triển khai trên hệ thống tập trung từ ngày 22/4/2026.
Trong quá trình vận hành, Cục tiếp tục hỗ trợ trực tiếp những địa phương có số lượng hồ sơ lớn hoặc phát sinh vướng mắc như Đà Nẵng, Thanh Hóa và một số địa phương khác. Cục cũng phối hợp VNPT bố trí nhân sự hỗ trợ kỹ thuật tại địa phương, duy trì các nhóm trực vận hành để kịp thời xử lý sự cố. Đến nay, hệ thống đã được hỗ trợ phân quyền cho hơn 73 nghìn tài khoản của các đơn vị thuộc Bộ và 34 tỉnh, thành phố. Công tác hướng dẫn không chỉ dừng ở cấp sở mà còn được triển khai đến cấp xã, giúp cán bộ trực tiếp tiếp nhận và giải quyết hồ sơ có thể sử dụng thành thạo hệ thống.
Kết quả vận hành hệ thống đến nay như thế nào, thưa ông?
Theo số liệu tổng hợp đến cuối tháng 9/2026, hệ thống đã tiếp nhận 457.262 hồ sơ, trong đó có 441.062 hồ sơ trực tuyến, đạt tỷ lệ 96,5%. Đối với các thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ được triển khai trên hệ thống tập trung từ ngày 22/4/2026, đã tiếp nhận 16.939 hồ sơ, trong đó 15.568 hồ sơ trực tuyến, đạt tỷ lệ 91,9%.
Thủ tục kiểm tra an toàn thực phẩm rút từ khoảng 4 ngày xuống còn 1 ngày. Một số địa phương đã rút thời gian thực hiện thủ tục cấp mã số vùng trồng từ 18 ngày xuống còn 2-3 ngày.
Những con số này cho thấy việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến đang dần trở thành phương thức chủ yếu trong giải quyết thủ tục hành chính của ngành. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là tăng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến mà còn phải nâng cao hiệu quả xử lý, rút ngắn thời gian và giảm những giấy tờ không cần thiết.
Để duy trì kết quả này, Cục phối hợp các đơn vị chuyên môn xây dựng tài liệu hướng dẫn quy trình, cách thức nộp và tra cứu hồ sơ; đồng thời xây dựng các video hướng dẫn, phục vụ cả cán bộ cơ sở và người dân. Các tài liệu được phối hợp chuyển đến hệ thống hỗ trợ học tập kỹ năng số để mở rộng khả năng tiếp cận.
Số hóa dữ liệu đi liền với kết nối, khai thác trực tuyến
Ngoài số hóa quy trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, việc kết nối, khai thác cơ sở dữ liệu có ý nghĩa như thế nào đối với cải cách thủ tục hành chính, thưa ông?
Theo tôi, việc kết nối, khai thác dữ liệu hết sức quan trọng. Nếu chỉ đưa quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ lên môi trường điện tử mà vẫn yêu cầu người dân chuẩn bị đầy đủ giấy tờ như trước thì hiệu quả cải cách sẽ chưa đạt như mong muốn. Mục tiêu là chuyển từ yêu cầu người dân cung cấp giấy tờ sang khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu đã có. Khi thông tin được kết nối và xác thực, người dân không phải nộp lại những giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã có dữ liệu.
Ví dụ, trước đây, khi thực hiện một số thủ tục, tổ chức, cá nhân phải nộp bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Khi hệ thống kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cơ quan giải quyết có thể khai thác thông tin theo mã số doanh nghiệp thay vì yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ.
Tương tự, đối với thủ tục cấp mã số vùng trồng, thông tin về quyền sử dụng đất là một thành phần hồ sơ. Khi dữ liệu đất đai đã có và có thể khai thác, người dân không phải tiếp tục nộp bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thành phần hồ sơ tương ứng. Với thông tin cá nhân, việc kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cũng giúp giảm yêu cầu kê khai lại những thông tin đã được xác thực.
Như vậy, giá trị của kết nối dữ liệu không chỉ nằm ở việc giảm giấy tờ mà còn giúp cơ quan giải quyết thủ tục có nguồn thông tin tin cậy, hạn chế việc kiểm tra, đối chiếu thủ công. Qua đó, thời gian xử lý được rút ngắn, chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp giảm xuống.

Ông Nguyễn Xuân Thang cho biết, từ ngày 1/1/2026, hệ thống chính thức vận hành theo mô hình tập trung đối với các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương. Ảnh: Trường Giang.
Việc khai thác dữ liệu được triển khai theo lộ trình như thế nào, thưa ông?
Việc kết nối, khai thác dữ liệu được thực hiện theo mức độ hoàn thiện của từng cơ sở dữ liệu, chứ không phải chờ tất cả dữ liệu hoàn thành mới triển khai. Dữ liệu đến đâu, đủ điều kiện khai thác đến đâu thì tích hợp, sử dụng đến đó.
Từ đầu năm 2026, trong quá trình vận hành hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, Bộ đã chỉ đạo Cục Chuyển đổi số đồng thời kết nối các cơ sở dữ liệu phục vụ cắt giảm thành phần hồ sơ. Cách làm này kế thừa kinh nghiệm triển khai từ trước, trong đó có việc khai thác dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm và các nguồn dữ liệu phục vụ xác minh thông tin.
Thời gian tới, theo kế hoạch triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số, Bộ đang chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện những cơ sở dữ liệu đang xây dựng, đồng thời mở rộng kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành như lâm nghiệp, kiểm lâm, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất trồng trọt và biến đổi khí hậu. Mục tiêu là tiếp tục giảm thành phần hồ sơ, tránh yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống dữ liệu của cơ quan nhà nước.
Trong quá trình vận hành và kết nối dữ liệu, những khó khăn, vướng mắc nổi bật hiện nay là gì, thưa ông?
Để hoàn thiện hệ thống, hiện có một số nhóm vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ. Thứ nhất, quá trình đồng bộ giữa hệ thống của Bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia có thời điểm gặp hạn chế về dung lượng tệp hồ sơ. Những tệp dữ liệu lớn không đồng bộ được có thể ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết thủ tục và việc tra cứu hồ sơ của người dân.
Thứ hai, thanh toán trực tuyến đôi khi phát sinh lỗi hoặc chậm trả kết quả xác nhận, biên lai. Điều này khiến người nộp hồ sơ chưa biết chắc giao dịch đã hoàn tất hay chưa, ảnh hưởng đến trải nghiệm sử dụng dịch vụ công.
Thứ ba, việc kết nối cơ sở dữ liệu vẫn cần nhiều thời gian và công sức. Theo mô hình hướng tới, dữ liệu được tập trung tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia để các hệ thống khai thác thống nhất. Tuy nhiên, trong khi mô hình kết nối này chưa hoàn thiện, một số hệ thống phải kết nối trực tiếp với các bộ, ngành chủ quản cơ sở dữ liệu. Cách làm đó đặt ra thêm yêu cầu về kỹ thuật, phối hợp và duy trì kết nối.
Bên cạnh đó, chất lượng dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu chưa đồng đều. Có cơ sở dữ liệu mới được xây dựng với số lượng bản ghi còn hạn chế nên dù đã kết nối, khả năng khai thác thực tế chưa cao. Vì vậy, song song với hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, cần đẩy nhanh việc chuẩn hóa, bổ sung và làm giàu dữ liệu.
Một vấn đề khác là sự khác biệt trong công bố thủ tục hành chính giữa các địa phương. Khi mỗi địa phương xây dựng quy trình, biểu mẫu và mã thủ tục riêng, việc tích hợp lên hệ thống tập trung cũng như liên thông dữ liệu giữa các tỉnh, thành phố sẽ phức tạp hơn.
Vậy theo ông, cần giải pháp gì để hệ thống vận hành thống nhất, phát huy hiệu quả của dữ liệu và tiếp tục cải cách thủ tục hành chính?
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, xử lý các lỗi phát sinh trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, nhất là những vấn đề liên quan dung lượng tệp hồ sơ, thanh toán trực tuyến và đồng bộ dữ liệu. Đây là điều kiện để bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ trực tuyến được thông suốt. Vấn đề này Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã kiến nghị tới cấp có thẩm quyền để được giải quyết.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh xây dựng kết nối và chuẩn hóa dữ liệu của Bộ, để chia sẻ với các bộ, ngành, địa phương. Việc kết nối phải đi đôi với nâng cao chất lượng dữ liệu, bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên. Đồng thời, cần có cơ chế khai thác ổn định để khi dữ liệu đã sẵn sàng, cơ quan giải quyết thủ tục có thể sử dụng ngay, không phải yêu cầu người dân bổ sung giấy tờ không cần thiết.
Đồng thời cần nghiên cứu thống nhất các thành phần hồ sơ, biểu mẫu và những yêu cầu cơ bản trong quy trình giải quyết thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Địa phương có thể cấu hình các bước xử lý, thời gian giải quyết và đơn vị thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế, nhưng cần có khuôn khổ chung về thủ tục và dữ liệu để bảo đảm khả năng liên thông.
Nếu giải quyết được vấn đề này sẽ là điều kiện quan trọng để tiến tới cung cấp dịch vụ công thuận tiện hơn, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn: https://mae.gov.vn/chuyen-oi-so-tu-du-lieu-bai-2-giam-giay-to-tiet-kiem-thoi-gian-23155.htm
